Một nghiên cứu về người Mỹ gốc Á đã cho thấy, những người có cảm giác bị giằng xé giữa các nền văn hoá khác nhau thì khi thích nghi với các kỳ vọng của những nền văn hoá đó, họ có thể cảm thấy như đang không thực sự là chính mình, và những hành động tử tế nhỏ dành cho bản thân có khả năng xoa dịu được cảm giác này.
Một số người tham gia sau khi được yêu cầu viết về việc họ điều chỉnh cách cư xử của mình thế nào khi ở gần người châu Á và người Mỹ đã thể hiện một phản ứng thú vị: đó là những người cảm thấy bị giằng xé giữa hai nền văn hoá của mình thì bị thu hút hơn bởi các sản phẩm tẩy rửa như khăn lau diệt khuẩn và nước giặt xả (Mok, 2022). Dù có vẻ hơi kỳ lạ, nhưng nghiên cứu đã cho thấy người ta có thể cảm thấy một sự thôi thúc muốn “thanh tẩy” sau khi cư xử ngược lại với con người thật của mình (Gino và cộng sự, 2015, như đã trích dẫn trong Mok, 2022).
Qua bốn thí nghiệm khác nhau, nhà nghiên cứu đã khảo sát hơn 700 người Mỹ gốc Á đang sống ở Mỹ, bao gồm cả người nhập cư lẫn người được sinh ra tại đây. Đầu tiên, mỗi người đánh giá họ cảm nhận thế nào về hai nền văn hoá của mình: liệu chúng hoà quyện hay là mâu thuẫn với nhau. Các nhà nghiên cứu gọi đây là “mức độ tích hợp bản sắc song văn hóa” (bicultural identity integration). Sau đó, người tham gia mô tả lại cách ứng xử của mình thay đổi như thế nào khi ở cạnh người châu Á so với người Mỹ. Mỗi phần trên đều thực hiện trong một thời gian ngắn khoảng vài phút, vì vậy kết quả thể hiện cảm nhận của người tham gia trong khoảnh khắc ấy, không phản ánh rằng họ luôn như thế (Mok, 2022).
Những người cảm thấy các nền văn hoá của mình hòa quyện với nhau thì dù thích nghi với nền văn hoá nào họ cũng cảm thấy chân thực với bản thân, như thể họ luôn là cùng một người dù ở cạnh người châu Á hay người Mỹ. Còn những người cảm thấy bị giằng xé giữa hai nền văn hoá, việc điều chỉnh cách hành xử cho phù hợp với người đối diện khiến họ thấy không thực sự là chính mình. Một thí nghiệm sau đó đã làm nổi bật được nguyên nhân: khi điều chỉnh để phù hợp với một nền văn hoá thì đồng thời, một nỗi sợ rằng họ sẽ đánh mất, hoặc phải gạt bỏ, nền văn hoá còn lại cũng nổi lên (Mok, 2022).
Một phụ nữ trẻ người Việt có thể nói chuyện nhỏ nhẹ, và thường xuyên “dạ” khi nói chuyện với người lớn trong nhà, sau đó cô ấy đến chỗ làm, gặp đồng nghiệp phương Tây thì cô lại nói chuyện bằng một giọng thẳng thắn hơn. Nếu cô ấy thấy cả hai kiểu trên đều là con người mình, sự chuyển đổi giữa hai kiểu sẽ diễn ra tự nhiên. Nhưng nếu một trong hai mang đến cho cô cảm giác như khoác lên một vỏ bọc, thì mỗi lần giao tiếp như vậy có thể âm thầm để lại một cái giá trong cô.
Phát hiện đáng hy vọng nhất nằm ở phần tiếp theo của nghiên cứu. Một số người trước khi đánh giá mức độ chân thực với bản thân, đã được yêu cầu liệt kê năm cách mà họ đối xử tử tế với bản thân (ví dụ như không để các suy nghĩ về những thứ không thể thay đổi được luẩn quẩn trong đầu, “không dằn vặt bản thân vì những thất bại trong quá khứ”). Đối với những người cảm thấy bị giằng xé giữa hai nền văn hoá, hành động nhỏ này dường như giúp họ dễ dàng thể hiện con người thật hơn, ngay cả khi nó đòi hỏi họ phải điều chỉnh cách cư xử theo bối cảnh văn hóa (Mok, 2022).
Việc cảm thấy bị giằng xé giữa các nền văn hoá có thể quen thuộc với nhiều người sống trong cả hai nền văn hoá, nhưng nó không đồng nghĩa với việc họ thích nghi kém. Chỉ đơn giản là mỗi nền văn hoá mong đợi những điều khác nhau ở họ. Vào những ngày khi một nơi nào đó khiến chúng ta phải thu mình lại, một chút dịu dàng và bao dung dành cho chính mình có thể giúp chúng ta thể hiện bản thân một cách trọn vẹn ở nơi ấy.
Ở đâu thì bạn thấy được là chính mình nhất, và ở đâu thì bạn lại thấy một phần của mình không thuộc về nơi đó?
Tác giả: Huỳnh Thanh An · Người dịch: Nguyễn Trần Ngọc Ánh
Nguồn tham khảo
Mok, A. (2022). Feeling at home in two cultural worlds: Bicultural identity integration moderates felt authenticity [Cảm thấy thân thuộc ở cả hai thế giới văn hóa: Mức độ tích hợp bản sắc song văn hóa điều tiết cảm nhận về tính chân thực]. Journal of Cross-Cultural Psychology, 53(2), 179–212. https://doi.org/10.1177/00220221211072798